Pages

Subscribe:

Friday, 30 September 2016

Táo mèo trị huyết áp cao, rối loạn mỡ máu

Táo mèo có tính tỳ, vị, can, hơi ẩm lại chua ngọt nên có tác dụng tốt cho kích thích tiêu hóa, sát trùng.

Táo mèo trị huyết áp cao, rối loạn mỡ máu - 1
Táo mèo có tác dụng tốt cho kích thích tiêu hóa, sát trùng.

Táo mèo còn gọi là Sơn tra, mọc nhiều tại các tỉnh: Lạng Sơn, Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Yên Bái… nơi có khí hậu mát mẻ, ở độ cao trên 1.000m. Theo Đông y, táo mèo có tính tỳ, vị, can, hơi ẩm lại chua ngọt nên có tác dụng tốt cho kích thích tiêu hóa, sát trùng, tiêu tan ứ huyết. Táo mèo là loại quả có tác dụng đa năng, vừa dùng giải khát, tẩm bổ trong ngày hè, vừa là vị thuốc quý hỗ trợ điều trị các bệnh như:

- Chữa rối loạn mỡ máu: Lấy 50g táo mèo thái phiến đem nấu với 50g gạo tẻ thành cháo. Sau đó, cho đường phèn vừa ngọt, chia vài lần ăn trong ngày.

- Trị huyết áp cao, phòng biến chứng: Sao đen 12g táo mèo, 12g thảo huyết minh, 9g hoa cúc trắng. Sau đó tán nhỏ hãm với nước sôi trong bình kín khoảng 20 phút, có thể uống thay trà trong ngày.

- Tăng cường khả năng tiêu hóa: Dùng 200g táo mèo rửa sạch, bỏ hạt ngâm với 300ml rượu trắng (chú ý ngày lắc bình một lần). Sau một tuần đem ra uống. Ngày uống hai lần, mỗi lần 10-15ml. Sau khi uống hết rượu, quả táo mèo còn lại trộn với đường kính ăn dần.

- Chữa gan nhiễm mỡ: Mỗi ngày ăn 5-7 quả táo mèo hoặc dùng 10-15 quả sắc nước uống.

8 lợi ích sức khỏe ai cũng được nhận khi ăn bưởi hàng ngày

Mùa bưởi đã đến rồi, tranh thủ những ngày bưởi ngọt bưởi chua được bán đầy khắp các chợ, bạn hãy tích cực mua chúng về ăn để nhận được thật nhiều lợi ích từ bưởi nhé.

Tăng cường miễn dịch cho cơ thể

Từ lâu, bưởi được coi là thành viên gia đình họ cam quýt, do đó, bưởi giúp bổ sung vitamin C tuyệt vời. Chính điều này làm tăng sức đề kháng của cơ thể. Chúng cũng có nhiều chất chống oxy hoá, bảo vệ cơ thể chống lại stress, các bệnh liên quan đến hen suyễn và viêm khớp…

Giảm cholesterol

Theo nhiều nghiên cứu đã công bố trước đó, những người thường xuyên thêm bưởi vào chế độ ăn uống hàng ngày giúp giảm cholesterol LDL và cholesterol toàn phần và giảm lượng chất béo của họ hiệu quả.

8 lợi ích sức khỏe ai cũng được nhận khi ăn bưởi hàng ngày - 1

Ngăn ngừa sỏi thận

Trong những trái bưởi có chất gọi là d-limonene ngăn ngừa sự hình thành và làm tan sỏi thận.

Bởi thế, nếu phụ nữ uống nửa lít đến một lít nước bưởi mỗi ngày sẽ làm giảm nồng độ pH trong nước tiểu của họ, qua đó làm giảm nguy cơ phát triển sỏi thận.

Tuy nhiên, nếu bạn đã được điều trị các vấn đề về thận, nước ép bưởi có thể cản trở hiệu quả của thuốc mà bạn đang dùng.

8 lợi ích sức khỏe ai cũng được nhận khi ăn bưởi hàng ngày - 2

Phòng chống ung thư

Những trái bưởi rất giàu chất chống oxy hoá, góp phần làm giảm nguy cơ stress có liên quan đến nhiều bệnh ung thư.

Ngoài ra, trong những trái bưởi còn có chất naringenin. Chất này giúp chống lại ung thư tuyến tiền liệt vì giúp sửa chữa hư hỏng DNA trong các tế bào tuyến tiền liệt của con người.

Đặc biệt, bưởi còn chứa một chất được gọi là limonoids, giúp ngăn ngừa các khối u bằng cách thúc đẩy một loại enzyme tác động lên gan thúc đẩy trục xuất chất độc ra ngoài cơ thể.

Chất này giúp chống lại ung thư miệng, da, phổi, dạ dày. Phần ruột bên trong bưởi có chứa glucarates, một loại phytochemical đã được chứng minh hiệu quả chống lại bệnh ung thư vú.

Giảm cân, đốt cháy mỡ thừa

Trong những trái bưới không có chất béo và còn chứa những enzyme đốt cháy chất béo cao. Vì thế, chúng góp phần làm thay đổi nồng độ insulin, ảnh hưởng đến tỉ lệ trao đổi chất cao.

Theo đó chỉ cần 1 ngày trước mỗi bữa ăn bạn hãy uống 1 ly nước ép bưởi hoặc nửa trái bưởi trước mỗi bữa ăn có thể giúp giảm cân nhanh chóng.

8 lợi ích sức khỏe ai cũng được nhận khi ăn bưởi hàng ngày - 3

Làm đẹp da

Bưởi có chứa nhiều vitamin A và vitamin C nên giúp duy trì đủ độ ẩm trong da, bảo vệ da khỏi bị khô, bệnh vẩy nến, mụn trứng cá và nếp nhăn. Từ đó, chúng khiến làn da đẹp lên trông thấy.

Hạ đường huyết, chữa bệnh tim mạch

Trong nước bưởi có chứa insulinl; có thể làm hạ đường huyết. Mỗi ngày ăn một quả bưởi chua sẽ có tác dụng rất tốt cho những người mắc bệnh đái đường, béo phì và người mắc bệnh tim mạch.

Bưởi giúp thanh lọc gan

Uống nước ép bưởi sẽ giúp gan khỏe hơn và làm sạch các độc tố có trong gan. Thanh lọc gan sẽ giúp thuyên giảm các bệnh mãn tính như trầm cảm, cứng cơ hay đau đầu mãn tính.

Monday, 18 July 2016

Infographic: Những bài thuốc dân gian trị sỏi thận hiệu quả

Đu đủ xanh, chuối hột, dứa… là những vị thuốc thảo dược mà theo kinh nghiệm dân gian có thể đánh tan sỏi thận.

Infographic: Những bài thuốc dân gian trị sỏi thận hiệu quả - 1Infographic: Những bài thuốc dân gian trị sỏi thận hiệu quả - 2Infographic: Những bài thuốc dân gian trị sỏi thận hiệu quả - 3

Công dụng tuyệt vời của quất hồng bì khi bạn ăn đúng cách

Vỏ của quất hồng bì có công dụng chữa bệnh cực tốt, hơn nữa lại được xem là loại quả “sạch”. Vì vậy, không nên bỏ vỏ khi ăn.

Quất hồng bì (nhiều địa phương còn gọi là giổi), được dùng như vị thuốc, chữa nhiều chứng viêm họng, khó tiêu, cảm sốt rất hiệu quả.

Tuy thịt ít hạt nhiều, nhưng lại là món ăn vặt hấp dẫn bởi vị chua thơm đặc trưng. Theo y học cổ truyền, không chỉ quả mà lá, rễ của cây hồng bì đều có tác dụng chữa bệnh rất tốt.

Dưới đây là một số công dụng của hồng bì có thể bạn chưa biết:

Công dụng tuyệt vời của quất hồng bì khi bạn ăn đúng cách - 1
Ảnh minh họa.

Quả hồng bì trị ho, kích thích tiêu hóa

Theo y học cổ truyền, vỏ của hồng bì có công dụng trị ho rất tốt. Vào mùa nếu bị ho bạn có thể lấy hồng bì hấp cùng với một chút đường để lấy nước uống. Ngoài ra, bạn có thể ngâm sẵn để dùng dần, hoặc làm mứt hồng bì để ăn trong những ngày bị ho.

Hạt hồng bì có vị đắng, cay, the, tính ấm. Có tác dụng giảm đau, kích thích tiêu hóa, được dùng chữa đau dạ dày, đau vùng thượng vị, đau bụng co thắt.

Lá hồng bì giúp long đờm, mượt tóc

Lá hồng bì có tính ấm, vị cay, đắng. Theo Đông y, lá hồng bì có tác dụng long đơm, giảm ho, hạ sốt, giải cảm. Còn theo một nghiên cứu hiện nay thì lá hồng bì có thể giúp hạ đường huyết, bảo vệ gan và lipid huyết…

Trước đây, nhiều chị em còn dùng lá hồng bị đun sôi để nguội để gội đầu, có công dụng trị gàu, làm mượt tóc rất hữu hiệu.

Rễ hồng bì tốt cho phụ nữ sau sinh

Trong Đông y thì rễ cây hồng bì có tác dụng chữ cảm mạo, thấp khớp, dùng cho phụ nữ sau đẻ. Liều dùng: hạt 6-10g, rễ 10-20g.

Còn đối với phụ nữ sau đẻ có thể dùng thang thuốc sau sắc lên uống. Nên dùng trong nhiều ngày liên tục. Lấy vỏ thân hoặc rễ cây quất hồng bì 30g, rễ sử quân 20g, quả khế chua 20g. Các vị sao vàng, sắc đặc, chia uống nhiều lần trong ngày. Nó giúp cho sản phụ kích thích tiêu hóa và phòng bệnh sau đẻ.

Tuesday, 31 May 2016

Cách chữa viêm loét miệng đơn giản, an toàn tại nhà

Mùa hè, thời tiết nóng bức dễ khiến bạn mắc chứng viêm loét miệng đau nhức, khó chịu. Bạn có thể tham khảo một số cách chữa đơn giản bằng nguyên liệu có sẵn trong nhà dưới đây.

Viêm loét miệng là gì?

Cách chữa viêm loét miệng đơn giản, an toàn tại nhà - 1
Cơn đau nhức ở miệng gây ra rất nhiều đau đớn được gọi là chứng viêm loét miệng. Nó là một vết lở màu trắng xám với các vầng đỏ và nông gây ra đau đớn và bỏng rát. Viêm loét miệng còn được gọi là chứng lở miệng. Những vết loét này thường xuất hiện trên lưỡi, môi, trong má, thậm chí cả ở mép và trên lợi. Khi vết loét chuẩn bị xảy ra, bạn thường cảm thấy nóng và có cảm giác ngứa trong miệng. Chúng không bị lây nhưng luôn có xu hướng tái phát lại. Những vết loét này xảy ra vào cùng một thời điểm hay xuất hiện cùng một chỗ. Thông thường các vết loét miệng kéo dài khoảng một tuần hoặc 10 ngày.

Triệu chứng viêm loét miệng

Viêm loét dạng nhỏ:

Đây là những dạng loét phổ biến nhất (viêm miệng aphthous còn gọi là viêm miệng ap – tơ) và chiếm 80% trong số các trường hợp. Thời gian để các vết loét này lành lại thường là 7 – 10 ngày.

Viêm loét dạng lớn:

Còn được gọi là các vết loét rộng, những dạng loét này chiếm 10% trong số các trường hợp viêm miệng aphthous. Những vết loét này được coi là viêm loét miệng dạng aphthous lớn. Loại này thường kết hợp với các vết loét liền kề và tạo nên vết loét lớn hơn. Chúng thường rất đau.

Cách chữa viêm loét miệng đơn giản, an toàn tại nhà - 2
Viêm loét dạng herpes:

Dạng viêm loét này rất đau và được hình thành do lấy nhiễm virus herpes simplex. Trong loại viêm loét này, bạn sẽ thấy các vết thương tái phát thường xuyên hơn nhiều so với viêm loét dạng aphthous nhỏ và lớn. Hầu hết phụ nữ có khả năng bị ảnh hưởng bởi dạng loét này nhiều hơn so với nam giới. Những vết loét này xảy ra theo cụm với 100 các vết loét nhỏ.

Nguyên nhân gây ra viêm loét miệng
- Căng thẳng
- Tình trạng răng miệng mất vệ sinh
- Thiếu các chất dinh dưỡng như vitamin B12, vitamin C và sắt
- Dị ứng thức ăn
- Đặc biệt là viêm..
- Mất cân bằng hoocmon
- Bệnh về đường ruột
- Bệnh về da
- Bệnh tiềm ẩn bên trong

Một số phương pháp trị viêm loét miệng tại nhà

Bài 1: Lá rau ngót tươi 5 - 10g. Cách dùng: Lá rau ngót tươi, rửa sạch, giã nhỏ, vắt lấy nước. Dùng bông hoặc vải mềm sạch thấm vào nước thuốc cọ sát lên lưỡi, lợi và vòm miệng trẻ. Chú ý động tác phải nhẹ nhàng và khéo léo. Một ngày làm như vậy 2 - 3 lần. Thường chỉ 2 ngày sau là trẻ bú được.

Bài 2: Mật ong 1ml, nước lá nhọ nồi (cỏ mực) 10ml. Cách dùng: Lá nhọ nồi tươi hái về rửa sạch, giã nhỏ vắt lấy nước. Lấy 10ml nước lá nhọ nồi trộn lẫn với 1ml mật ong. Dùng bông hoặc vải mềm sạch thấm vào nước thuốc, bôi vào lưỡi lợi và vòm miệng cho trẻ. Mỗi ngày bôi 2 - 3 lần. (Nên dùng mật ong loại tốt đã được kiểm định chất lượng.)

Cách chữa viêm loét miệng đơn giản, an toàn tại nhà - 3
Bài 3: Lá rau ngót 15g, hàn the 1g. Cách dùng: Rửa sạch lá rau ngót, giã nát, vắt lấy nước, hòa hàn the vào, đem hấp cơm. Khi cơm chín, lấy thuốc ra dùng bông sạch, thấm bôi vào chỗ có đóng váng trắng. Mỗi ngày làm 2 lần.

Bài 4: Phơi lá mít vàng cho thật khô rồi đốt cháy cho thành than. Trộn với một ít mật ong rồi bôi vào chỗ tưa lưỡi 2 - 3 lần/ngày.

Bài 5: Cỏ mực (toàn cây tươi trừ rễ) 8g, lá hẹ tươi 4g. Giã vắt lấy nước cốt hoà với mật ong chấm lên chỗ đau, 2 - 3 lần một ngày, mỗi lần cách nhau 2 giờ.

Bài 6:

- Rễ Cải thìa (gọt bỏ vỏ già ở ngoài) thái lát, sao nhỏ lửa cho vàng thẫm, tán thành bột mịn, cho vào lọ nút kín dùng dần.

- Mỗi ngày lấy bột thuốc bôi vào chỗ bị bệnh 2 - 3 lần.

Lưu ý: Đối trẻ em nếu dùng các bài thuốc trên sau 2 - 3 ngày trẻ vẫn khó chịu, khó bú và quấy khóc cha mẹ nên đưa trẻ đến cơ sở y tế để được khám và điều trị.

Một số cách khác

1. Nước dừa là một loại thuốc rất tốt để chữa loét miệng. Lấy chiết xuất nước dừa bằng cách lọc lấy nước dừa tươi. Súc miệng bằng nước dừa khoảng 3 đến 4 lần một ngày.

2. Lá cây rau mùi được đun sôi trong nước là một phương pháp chữa trị tốt cho các vết loét miệng. Để cho nước nguội rồi súc miệng khi nước còn âm ấm ít nhất khoảng 3 – 4 lần một ngày và chú ý sẽ thấy kết quả tốt hơn.

3. Súc miệng bằng một cốc nước lạnh hoặc một cốc nước ấm. Phương pháp này sẽ chữa khỏi các vết loét miệng rất hiệu quả.

Cách chữa viêm loét miệng đơn giản, an toàn tại nhà - 4
4. Lấy một cốc lá methi rồi đun sôi trong 2 cốc nước. Lọc lấy nước và bảo quản nó bằng cách dùng nắp đạy nó lại. Dùng nước này súc miệng 2 hoặc 3 lần mỗi ngày.

5. Đun sôi một cốc nước rồi cho một thìa cà phê hạt cây rau mùi vào đó. Sau khi nó trở nên ấm hơn, hãy lọc lấy nước và súc miệng khi nước ấm. Lặp lại quá trình này 3 đến 4 lần mỗi ngày.

6. Nha đam là một phương thuốc tự nhiên hiệu quả cho các vết loét miệng. Lấy ít nhất 2 muỗng canh nhựa nha đam 3 lần mỗi ngày để có kết quả nhanh chóng.

7. Nhai 5 – 6 lá cây húng quế với một chút nước mỗi ngày sẽ giúp bạn loại bỏ được các vết loét miệng. Lặp lại phương pháp này 5 đến 6 lần mỗi ngày để có kết quả tốt hơn.

8. Nhai 5 đến 6 chiếc lá húng quế sạch rồi uống một chút nước.Thực hiện điều này ít nhất 5 – 6 lần bất kì khi nào bạn bị loét miệng.

9. Ăn cà chua sống giúp bạn loại bỏ được các vết loét miệng. Thậm chí bạn có thể thử súc miệng bằng nước ép cà chua 3 đến 4 lần mỗi ngày.

10. Bạn có thể thoa hỗn hợp long não và đường phèn lên các vết giộp. Tạo ra hỗn hợp này với tỉ lệ 7 phần mishri (đường phèn) và một phần long não. Đây là một trong những cách đơn giản nhất để chữa trị các vết loét trong miệng.

11. Thoa hỗn hợp bột nghệ và glyxerin. Để tạo ra hỗn hợp này, lấy một nhúm bột nghệ và một thìa cà phê glyxerin.

12. Lấy một thìa cà phê mật ong rồi trộn với ¼ thìa cà phê bột nghệ để tạo thành một hỗn hợp kết dính. Sau đó chà nó lên các vết lở trong miệng.

13. Ăn một quả chuối với sữa đông đầu tiên vào sáng sớm để có kết quả tốt hơn.

14. Một trong những phương pháp đã được chứng minh có thể chữa được loét miệng đó là massage lợi trong miệng với hỗn hợp mật ong và dầu dừa.

15. Nghiễn quả chùm ruột của Ấn Độ rồi thoa trực tiếp lên vết loét. Lặp lại quá trình này ít nhất 2 lần một ngày và chú ý kết quả.

16. Tạo ra một loại nước súc miệng khử trùng cho riêng mình với 10 giọt dầu trà xanh trong 1/3 cốc nước. Súc miệng trong vòng 30 giây rồi nhổ ra. Phương pháp này sẽ giúp bạn chữa trị chứng viêm nhiễm và làm lành các vết loét.

17. Hòa tan nửa muỗng canh muối trong một cốc nước để tạo ra dung dịch súc miệng bằng nước muối. Giữ trong vòng ít nhất 30 giây sau đó nhổ ra. Bạn cũng có thể súc miệng với nước muối ấm để đạt kết quả tốt hơn.

18. Chấm nhẹ 2 giọt dầu trà xanh trực tiếp lên các vết loét, cách này sẽ giảm bớt sự tấy đỏ xung quanh vết loét, đồng thời giảm bớt sự viêm nhiễm.

19. Một cách nhanh gọn khác để trị viêm loét miệng trong thời gian ngắn đó là sử dụng nước ép quả nam việt quất.

20. Thậm chí bạn có thể sử dụng sữa chua nguyên chất để trị các vết lở miệng.

Hiểu đúng về thuốc đông y

Theo điều tra của Viện Dược liệu quốc gia, Việt Nam có khoảng 3.900 loại cây làm thuốc nhưng chỉ mới khai thác sử dụng khoảng 280 cây

Lâu nay, các phương tiện thông tin đại chúng thường nêu vấn đề dược liệu nhập lậu, dược liệu bẩn, dược liệu không đủ chất lượng… Vậy sự thật như thế nào?

Hơn thua chỗ bào chế, sao tẩm

Trong đông y, nguyên liệu thường dùng làm thuốc là thảo mộc, khoáng vật, động vật, trong đó thảo mộc được dùng nhiều hơn cả, bao gồm lá, hoa, quả, hạt, thân cây, rễ cây. Nguyên liệu thu hái về phơi hoặc sấy khô gọi là dược liệu. Khi các thầy thuốc mua dược liệu về bào chế thành phẩm gọi là thuốc đông y.

Các cụ xưa cho rằng thầy thuốc đông y dùng thuốc hơn nhau ở chỗ bào chế, sao tẩm. Bào chế thuốc đông y nhằm mục đích giảm bớt tính độc (nếu có), tính hàn, tính nhiệt của dược liệu, làm tăng tác dụng của thuốc. Mục đích cuối cùng là đưa thuốc vào đúng vị trí của bệnh mà nay ta thường gọi là đưa thuốc vào địa chỉ. Ví dụ bạch truật sao với hoàng thổ là để đưa thuốc vào tỳ vị để bổ tỳ kiện vị. Nay không có hoàng thổ thì sao với dầu cám, có tác dụng bổ tỳ vị, làm giảm bớt tính ráo của bạch truật. Bạch thược dùng sống để bổ âm, sao với giấm để thuốc vào gan, chữa bệnh ở gan. Viễn chí là vị thuốc an thần nhưng phải bỏ lõi, nếu để cả lõi thì gây ra chứng hồi hộp tim sao với rượu để đưa thuốc vào tâm (tim)... Hiện nay, một số bệnh viện y học cổ truyền ở địa phương và một số thầy thuốc đông y thường không sao tẩm, dùng thuốc sống để chữa bệnh, không những kết quả kém mà có khi phản tác dụng.

Hiểu đúng về thuốc đông y - 1
Trong đông y, nguyên liệu thường dùng làm thuốc là thảo mộc, khoáng vật, động vậtẢnh: Hoàng Triều

Riêng dược liệu từ Trung Quốc đưa sang Việt Nam theo đường tiểu ngạch, phần nhiều là dược liệu loại 3 và 4 (không có dược liệu loại 1 và 2) cùng với thứ dược liệu mà họ đã rút hết hoạt chất, chỉ còn bã. Gần đây, cơ quan chức năng bắt được một số dược liệu nhập từ Trung Quốc không có nguồn gốc xuất xứ, một thành viên trong đoàn kiểm tra có đưa đến 6 vị thuốc nhờ chúng tôi xem hộ. Bằng mắt thường, với kinh nghiệm của một người làm thuốc lâu năm, chúng tôi thấy có 2 vị đương qui và cam thảo là chính phẩm; vị đan bì là thuốc loại 3; xuyên khung, hoàng kỳ là bã thuốc vì họ đã ép lấy hết hoạt chất... Còn thuốc nhập của Trung Quốc có chất độc hay không thì để cơ quan chức năng trả lời.

Nên nhập khẩu dược liệu chính ngạch

Theo điều tra của Viện Dược liệu quốc gia. Việt Nam có khoảng 3.900 loại cây làm thuốc, trong đó, các thầy thuốc đông y ở địa phương mới sử dụng khoảng 200 cây, nhà nước dùng khoảng 80 cây, còn lại 3.620 cây chưa dùng đến. Tại sao chúng ta không tổ chức khai thác để sử dụng? Vào thế kỷ thứ XIV, Tuệ Tĩnh đã dạy “Nam dược trị Nam nhân”, nghĩa là thuốc Nam trị bệnh cho người Việt Nam. Thế kỷ XVIII, Hải Thượng Lãn Ông đã nói trong bộ sách “Hải Thượng y tông tâm lĩnh”: “... Như thuốc nam thì rất tốt, rất nhiều, rất rẻ nhưng không biết dùng để chữa bệnh…”. Thập kỷ 60 - 70 của thế kỷ trước, ngành y tế đã có những công ty thu mua thuốc nam trong nhân dân về chế biến bán ra thị trường cho người tiêu dùng, vừa bảo đảm chất lượng vừa an toàn. Công ty Thuốc Bắc nhập dược liệu từ Trung Quốc theo đường chính ngạch, bào chế thành thuốc chín (thuốc đông y) bảo đảm chất lượng rồi bán cho các bệnh viện và các thầy thuốc đông y dùng chữa bệnh cho nhân dân, bệnh nhân vì thế yên tâm sử dụng mà không phải lo lắng như hiện nay.

Lúc này, nếu chúng ta tổ chức những tập đoàn nhập khẩu thuốc Trung Quốc theo đường chính ngạch như năm xưa thì không sợ mua phải thuốc kém chất lượng hay chỉ là bã thuốc như hiện nay.

Tuesday, 15 March 2016

Cách chữa ho hữu hiệu, đơn giản từ quả la hán

Quả la hán được ví như "thực phẩm chức năng", rất tốt để làm dịu cổ họng, long đờm, chữa ho do viêm họng, viêm phế quản…

 Cách chữa ho hữu hiệu, đơn giản từ quả la hán - 1
Quả la hán rất tốt để làm dịu cơn ho do viêm họng, viêm phế quản.

Quả la hán không chỉ có tác dụng làm nước uống giải khát ngon, dễ chế biến, mà nó còn có công dụng rất tốt để điều trị bệnh.

Loại quả này có tác dụng tốt để tăng cường miễn dịch cho cơ thể, giúp cải thiện huyết áp thấp và điều trị táo bón kinh niên. Những bệnh nhân tiểu đường hay béo phì cũng được khuyên nên sử dụng quả thường xuyên để hỗ trợ trong việc điều trị bệnh.

Với người bình thường, có thể sử dụng như một loại nước giải khát trong những ngày trời nóng. Tuy nhiên, theo các chuyên gia thì với những người có thể chất “dương hư”, biểu hiện như thích ấm, sợ lạnh, da nhợt nhạt, chân tay lạnh, thích uống ấm, đại tiện lỏng loãng; rêu lưỡi trắng... thì không nên lạm dụng.

Cách dùng quả la hán chữa bệnh

Chữa viêm họng: Lấy quả la hán thái hãm với nước sôi, uống thay nước trong ngày.

Chữa viêm thanh quản (mất tiếng): La hán 1 quả, thái miếng sắc lấy nước uống 2-3 lần trong ngày hoặc uống dần mỗi lần một ít.

Chữa ho gà: La hán 1 quả, hồng khô 25g, sắc lấy nước uống; hoặc la hán 1 quả, phổi heo bóp hết bọt 40g, hầm nhừ, nêm gia vị ăn.

Chữa ho đờm: la hán 20g, tang bạch bì 12g, sắc lấy nước uống trong ngày.

Bổ phế (hỗ trợ trong trị lao): La hán 60g, thịt lợn nạc 100g, hai thứ thái lát cho hầm cùng, nêm gia vị đủ, ăn cùng cơm.

Chữa táo bón: Dùng la hán sắc lấy nước, pha thêm mật ong uống trong ngày.

Trị cảm nóng và khát: Lấy một quả la hán bổ đôi quậy đều trong nước sôi uống thay trà.

La hán quả thuộc loại cây dây leo, mọc hoang hay được trông tại vùng Tây NamTrung Quốc.

La hán sau khi phơi khô có màu nâu vàng sẫm, hơi bóng có lông nhung, hình tròn hoặc tròn dài, đường kính 5-8 cm. Quả giòn dễ vỡ sau khi vỡ mặt trong có màu trắng vàng, xốp nhẹ. Hạt bên trong bẹt hình tròn trong hạt có hai lá mầm, vị ngọt.

Quả la hán tốt là quả tròn, lớn, cứng chắc, màu nâu vàng, lắc không kêu.

Kỳ bí y thuật Tây Tạng

Y thuật Tây Tạng hấp thụ nhiều tri thức y học cổ của Ấn Độ, Ba Tư, Hy Lạp và Trung Quốc, kết hợp với y thuật bản địa hình thành nên một nền y học vừa phong phú vừa kỳ bí

 Kỳ bí y thuật Tây Tạng - 1
Hệ thống kinh mạch theo y lý Tây Tạng mà các vị y sư phải thông hiểu Ảnh: INTERNET

Ngày càng có nhiều chuyên gia y tế phương Tây đến Tây Tạng (Tibet) để tìm hiểu nền y học cổ sơ độc đáo của xứ sở được xem là “nóc nhà thế giới” kỳ bí này.

Đậm màu sắc tôn giáo

Có thể nói không một nền y học nào trên thế giới lại hòa quyện với ý thức như y thuật Tây Tạng. Ở đây, Phật giáo (Mật tông, Lạt ma giáo) là quốc giáo. Y sư Tây Tạng hành nghề không chỉ để kiếm sống mà còn là một phương pháp tu trì.
Trước đây, hầu hết người hành nghề y ở Tây Tạng đều là những bậc chân tu, lấy việc làm của mình để cầu lợi cho chúng sinh. Các chùa ở Tây Tạng đều thờ vị Dược Sư Phật (Bhaishajyaguru), còn gọi là Đại Y Vương Phật, Y Vương Thiện Thệ, Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, là giáo chủ của Đông phương Lưu Ly thế giới.

Dược Sư Phật từng lập 12 điều thệ nguyện để cứu độ chúng sinh. Trong đó, có mấy điều liên quan đến việc bảo vệ sức khỏe tâm lý như: “sở cầu mãn túc” - làm thỏa mãn mọi nhu cầu của chúng sinh khiến chúng sinh an nhiên tự tại; “an lập chính kiến, khổ não giải thoát” - làm cho chúng sinh có được kiến giải chính xác, giải thoát tất cả khổ não…

Dược Sư Phật có 2 hóa thân: một là Dược Thụ Vương, chuyên cứu chữa bệnh tật thể xác của người (bệnh sinh lý); hai là Như  Ý Châu Vương, chuyên trị bệnh tật tinh thần (bệnh tâm lý). Theo “Pháp Hoa kinh” thì uống Như Ý Châu có thể đạt được như ý, khỏi các bệnh về tinh thần khiến cho thân tâm an lạc, sức khỏe dồi dào.

Do y học Tây Tạng gắn bó rất mật thiết với Phật pháp nên khái niệm y đức rất được coi trọng và mang đậm màu sắc tôn giáo. Hệ thống y học hiện đại có thể không đặt nặng mối liên hệ giữa y đức với trình độ chữa bệnh của thầy thuốc nhưng ở Tây Tạng, khi chọn thầy thuốc, tiêu chuẩn hàng đầu là y đức, còn hiểu biết và trình độ y thuật là thứ yếu. Họ tin rằng khi thầy thuốc phát nguyện cứu khổ chúng sinh, lòng từ bi rộng mở thì những phương thuốc bình thường cũng hiệu nghiệm hơn rất nhiều so với người giỏi y thuật nhưng tâm địa không thiện. Do đó, đối với thầy thuốc Tây Tạng, trí tuệ và lòng từ bi phải được chú trọng như nhau.

Người nhập môn y thuật Tây Tạng trước hết phải thuộc những điều thệ nguyện được lấy từ bộ y thư kinh điển “Tứ bộ y điển”. Bộ kinh này có những điều như: đối với người bệnh phải phát tâm từ bi, trị bệnh không phân thân sơ, chữa bệnh cho thuốc không cần báo đáp, không coi vật bài tiết của bệnh nhân là dơ dáy… Hằng ngày, y sinh phải đọc lại những điều ấy.

“Tứ bộ y điển” còn dạy về cách đối xử giữa thầy thuốc với thầy thuốc, trách nhiệm của người thầy với môn đồ, yêu cầu phẩm cách của một thầy thuốc… Người hành nghề thuốc phải luôn tâm niệm rằng “những hiểu biết và trình độ y thuật chỉ làm cho một người trở thành chuyên gia về y tế chứ không thể trở thành một vị lương y nếu không có tâm từ bi”.

Xem cái chết như “một chuyến lữ hành”

Một vấn đề về y đức khác biệt giữa y học Tây Tạng và các nền y học khác là ở việc nhận thức về cái chết. Lương y Tây Tạng không chỉ quan tâm đến việc chữa trị thân bệnh mà còn có trách nhiệm chăm sóc tâm bệnh của bệnh nhân, nhất là khi họ cận kề cái chết.

Bác sĩ tây y hay đông y khi chẩn đoán bệnh nhân không còn hy vọng sống thường giữ thái độ im lặng, không nói trực tiếp với họ. Điều này hoàn toàn ngược lại đối với thầy thuốc Tây Tạng: thông báo trực tiếp, không che giấu bệnh tình, không để cho bệnh nhân ảo tưởng vô vọng.

Tín ngưỡng sâu sắc vào Phật pháp, người Tây Tạng thuộc tầng lớp nào cũng tin tưởng một cách tuyệt đối rằng cái chết là sự khởi đầu của một cuộc sống mới, là một quá trình trong luân hồi chứ không phải kết thúc. Vì thế, quan niệm về cái chết của người Tây Tạng khá nhẹ nhàng, không lo buồn.

Có sinh là có tử, đó là quy luật tất nhiên nhưng con người ai cũng ham sống sợ chết. Phật giáo cho rằng sự kết thúc của sinh mệnh lại là sự bắt đầu cho một cuộc sống mới, con người chết đi cũng như phá bỏ tòa nhà cũ đổi một tòa nhà mới. Sự chuyển hóa từ kiếp này sang kiếp khác là do nghiệp báo thiện ác của cá nhân ấy gây ra. Ý nghĩa của sinh mệnh là ở giá trị vĩnh hằng. Mỗi con người nên nắm bắt thời gian ngắn ngủi của cuộc đời, nghiêm túc tu trì, chứng ngộ pháp thân, sáng tạo một sinh mệnh vĩnh hằng.

Khi các lương y Tây Tạng chẩn đoán thấy rằng bệnh nhân không thể qua khỏi, họ sẽ trực tiếp nói với người ấy: “Tốt nhất nên chuẩn bị hành lý cho một chuyến lữ hành”.

Đối với một người sắp chết, Phật giáo nói chung và Phật giáo Tây Tạng nói riêng bày tỏ sự quan tâm và lòng từ bi, thể hiện qua các nghi thức trợ niệm và khai thị. Trợ niệm là giúp người sắp chết niệm Phật để có thể vãng sinh cực lạc. Người trợ niệm đối với người sắp chết phải có thái độ thành khẩn, lời nói bình hòa, giúp người ấy được vui. Người trợ niệm cũng khen ngợi những việc lành mà người sắp chết từng làm, dùng cách khéo léo để làm cho tâm lý an vui. Ngoài ra, phải bố trí phòng bệnh chỉnh tề, quét dọn sạch sẽ, không khí thoáng mát; trước giường bệnh đặt tượng Phật dâng cúng bông hoa, kịp thời thay quần áo sạch sẽ.

Với nghi thức khai thị, Phật giáo yêu cầu “lâm chung khai thị” cho người sắp chết, như “ở trên thế gian này, bất cứ người nào cũng không thoát khỏi bệnh khổ và tử vong, do đó cũng không cần lo nghĩ về chúng…”. “Lâm chung khai thị” có thể tiêu trừ sự lo sợ đối với cái chết của người sắp lâm chung - một liều thuốc rất hay để giảm bớt đau khổ.
 
Blogger Templates